Kì 4. V. NGÃ Ở ĐÂU ĐỨNG DẬY Ở ĐÓ

Từ lò giếng Mông Dương, ông Nguyễn Đức Phan vi phạm kỷ luật, bị mất sạch. Đầu tiên là bị đình chỉ công tác, tiếp đến là bị khai trừ khỏi Đảng, bị cách chức và vố cuối cùng là vào tù, mất quyền công dân. Nhưng, cũng chính từ lò giếng Mông Dương, ông phấn đấu, rèn luyện, nhanh chóng trở thành Thứ trưởng Bộ Mỏ và Than.

Trở lại Mông Dương

Ngày 2/9/1974, ông Phan ra tù theo lệnh đặc xá án của Chủ tịch nước. Như vậy, ông chỉ chấp hành án 9 tháng 20 ngày, hơn nửa mức án mà ông bị tuyên phạt.

Đến tận cổng trại tạm giam đón ông hôm ấy là ông Nguyễn Châu, Phó Giám đốc Công ty. Ngồi trên trên chiếc xe Gát 69, qua phố mỏ Hà Lầm, kỷ niệm những ngày đầu đi làm mỏ trong ông chợt ùa về. Khi học đại học ở Liên Xô về nước, ông hăm hở xách va li xuống nhận công tác ở mỏ Hà Lầm. Suốt 5 năm, từ một công tử bột, quen sống, học hành ở nơi đô thị, ông vượt qua biết bao gian khó, phấn đấu trở thành đảng viên, được bổ nhiệm làm phó quản đốc, rồi quản đốc Công trường 38, Mỏ Hà Lầm, rồi được Bộ tín nhiệm giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn thực tập sinh xây dựng mỏ Mông Dương ở Liên Xô hai năm.

Về nước, ông cùng ông Minh chỉ đạo công nhân cải tạo khôi phục giếng chính Mông Dương do người Pháp để lại và đào mới giếng phụ. Mọi việc đang diễn ra tốt đẹp, bỗng nhiên, chỉ một sơ sểnh, phải vào tù, mất sạch, bị tước đảng tịch, mất chức, mất quyền công dân…

Phố mỏ Hà Lầm lầm bụi, trong ngày Quốc khánh bừng lên cờ hoa. Qua ô cửa kính, ông thấy loáng thoáng những gương mặt thân quen. Không biết, trong họ có ai nhận ra ông, một kỹ sư đầy triển vọng của Mỏ Hà Lầm năm nào, bỗng nhiên trở thành phạm nhân, bị giam giữ ngay ở Hà Lầm, vừa được phóng thích? Rồi đây, không biết công việc của ông sẽ ra sao? Tương lai ra sao? Cái tì vết này rửa sao cho sạch?

Dường như đọc được suy nghĩ của ông Phan, ông Châu vỗ vai:

- Ông yên tâm. Lãnh đạo chúng tôi bàn nhau rồi. Trước mắt, ông về làm ở phòng kỹ thuật công ty để dư luận lắng xuống. Êm êm rồi Công ty lại đề nghị Bộ điều ông về Mông Dương, làm trợ lí cho anh Phúc. Tôi tin Bộ sẽ nhất trí.

- Nhưng em về lại Mông Dương, sợ rằng…

- Chẳng sợ gì cả! Ngã ở đâu đứng dậy ở đó! Việc này lãnh đạo Công ty đã bàn rồi.

Theo ông Lang Đen và ông Châu, khi đó ở Mông Dương đang khó khăn lắm. Tiến độ thi công rất chậm trễ. Cán bộ kỹ thuật thiếu. Trong đoàn cán bộ công nhân Việt Nam sang Liên Xô thực tập sinh xây dựng Mỏ Mông Dương, mỗi ông Phan có bằng kỹ sư, còn lại toàn trung cấp và công nhân kỹ thuật. Bởi vậy, Công ty mới đề nghị Bộ quyết định điều động ông Phan làm trợ lý Giám đốc Xí nghiệp Xây lắp 6.

Xin được nói thêm, công nghệ mở vỉa bằng giếng đứng yêu cầu kỹ thuật rất cao. Đến nay, kỹ sư Việt Nam vẫn chưa thiết kế được (năm 2009). Hiện tại, Việt Nam chỉ có hai mỏ mở vỉa bằng giếng đứng. Mỏ thứ nhất là Mỏ Mông Dương, gồm hai giếng, giếng chính và giếng phụ. Giếng chính do người Pháp đào từ năm 1934, ta khôi phục từ năm 1969; giếng phụ do Viện Thiết kế mỏ GIBROSAT Liên Xô thiết kế với công suất 900 ngàn tấn/ năm và đầu tư; công nhân Việt Nam thi công.

Sau gần 14 năm khôi phục và xây dựng mỏ mới (tính từ năm 1969), đến ngày 28/12/1982, khu vực cánh tây của mỏ ra tấn than đầu tiên và năm 1986, hoàn thiện toàn bộ dây chuyền sản xuất. Đây là một trong những công trình trọng điểm của nhà nước thời đó, được đặt tên "Kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Mười Nga" tại Việt Nam.

Những năm đầu đi vào hoạt động, sản lượng của mỏ rất thấp, có năm chỉ đạt trên dưới 200 nghìn tấn/ năm; có ý kiến đề nghị đóng cửa mỏ. Sau đó, Tổng Công ty Than Việt Nam chỉ đạo mỏ đổi mới công nghệ, tổ chức lại sản xuất, đổi mới quản lí, v.v, nên sản lượng tăng nhanh. Năm 2009, dự kiến sản lượng, vượt gần gấp hai lần công suất thiết kế.

Các ông Phạm Thế Duyệt, nguyên Ủy viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị; Đoàn Văn Kiển, nguyên Ủy viên Trung ương đảng, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Vinacomin từng làm Giám đốc Xí nghiệp, chỉ đạo xây dựng mỏ Mông Dương. Mỏ thứ hai, mới khởi công từ đầu năm nay, xây dựng tại Hà Lầm, cũng gồm hai giếng, giếng chính và giếng phụ, do Trung Quốc thiết kế và thi công.

… Quyết định bổ nhiệm ông Phan làm Trợ lí Giám đốc Xí nghiệp Xây lắp 6 được đông đảo công nhân Mông Dương ủng hộ. Giám đốc Xí nghiệp lúc này là ông Nguyễn Quang Phúc. Dù ông Phan chỉ là trợ lí, đang trong thời kỳ thử thách, nhưng ông Phúc vẫn giao cho ông Phan toàn quyền chỉ đạo khối kỹ thuật, và chỉ lưu ý, việc ký văn bản phải thận trọng, việc gì thấy chưa yên tâm chớ thò bút vào, cứ để cho giám đốc, tội vạ gì giám đốc chịu!

Ông Phúc tâm sự với ông Phan thật chân tình: "Tôi già rồi, nhỡ may có chuyện gì chẳng sợ. Còn chú, trẻ, có năng lực, lại vừa ở tù ra. Nhỡ may lại gặp chuyện lôi thôi, chắc khó ngóc đầu lên được". Năm đó Xí nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch, được cấp trên khen thưởng.

Ra tù được một năm, ông Phan lại được kết nạp đảng. Khi ông Trương Văn Hoành, Phó Giám đốc Xí nghiệp Xây lắp 6, học Trường Nguyễn Ái Quốc về, Công ty rút ông Phan về làm Trưởng phòng kỹ thuật mỏ của Công ty.

Công ty Xây dựng Than - Điện (từ năm 1974 đổi thành Công ty Xây dựng Mỏ than) khi đó lớn lắm, gồm tám xí nghiệp xây lắp. Ngoài ra, còn trường công nhân kỹ thuật, bệnh viện, v.v, với hơn một vạn công nhân cán bộ; hoạt động trên các lĩnh vực xây lắp điện, xây dựng mỏ, xây dựng dân dụng, công nghiệp, xây dựng cầu đường, v.v, địa bàn hoạt động từ Đông Anh tới Quảng Ninh, Quảng Trị. Đảng bộ Công ty có trên năm nghìn đảng viên. Các xí nghiệp của Công ty được đặt tên theo số thứ tự, từ 1 đến 8. Xí nghiệp Xây lắp 1, chuyên xây lắp điện, đóng ở Đông Anh, tiền thân của Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc - Vinacomin ngày nay. Xí nghiệp Xây lắp 4 có nhiệm vụ xây dựng mỏ Mạo Khê. Xí nghiệp Xây lắp 5 xây dựng Mỏ Vàng Danh… Xí nghiệp Xây lắp 6 xây dựng Mỏ Mông Dương v.v.

Ông Phan cho hay, nghề xây lắp nay đây mai đó, xây dựng xong công trình này lại chuyển đến xây dựng công trình khác, cần phải đặt tên như vậy để giữ thương hiệu. Các xí nghiệp xây lắp mỏ sau này, do biến động tổ chức nên đặt lại tên, hoặc sáp nhập với đơn vị khác.

Nêu những điều dài dòng này, chúng tôi muốn nói tới vai trò của ông Phan trong việc chỉ đạo xây dựng các mỏ than hầm lò của Việt Nam với cương vị Cục trưởng rồi sau này làThứ trưởng. Nhưng chuyện này kể sau. Bây giờ xin kể đến chuyện ông Phan được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Mỏ và Than.

Với phẩm chất và năng lực của ông Phan, được thể hiện từ khi ông ra tù, Bộ có cơ sở để tín nhiệm điều động ông về Bộ và bổ nhiệm ông làm phó phòng, rồi trưởng phòng Mỏ thuộc Vụ Kỹ thuật của Bộ. Tiếp đến là Vụ phó, rồi Vụ trưởng, Cục trưởng Cục Kiến thiết Cơ bản.

Việc bổ nhiệm những chức vụ này nhanh chóng và được nhiều người trong Bộ đồng tình ủng hộ. Với những vị trí ấy, ông Phan luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và lãnh đạo Bộ đang nhắm ông vào vị trí cao hơn. Xét về các tiêu chuẩn, ông Phan đều đạt “A hoa”. Về lí lịch “trích ngang”, thành phần gia đình của ông rất tốt. Bố ông là cán bộ chủ chốt trong Ủy ban hành chính kháng chiến chống Pháp của địa phương (làng Đình Bảng, Bắc Ninh); anh trai và em trai ông là liệt sỹ. Bản thân ông được đào tạo rất cơ bản về nghề mỏ, thông thạo ngoại ngữ lại có nhiều năng lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng mỏ.

Nhưng vướng nhất đối ông trước khi bổ nhiệm chức Thứ trưởng là ông có thời gian đi tù. Chế độ ta, hầu như chưa thấy ai đi tù sau đó phấn đấu trở thành Thứ trưởng! Bởi vậy, quy trình bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Mỏ và Than đối với ông Phan được thực hiện qua nhiều bước, rất thận trọng. Trước khi bổ nhiệm, Ban Tổ chức Trung ương cử người xuống tỉnh Quảng Ninh thẩm tra xác minh về thời gian ông đi tù. Ông Phan cho biết, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh lúc đó vẫn là ông Lê Đại - người mà trước đây chỉ thị các cơ quan pháp luật của tỉnh phải xử lí nghiêm đối với ông Phan! Vậy mà, vẫn theo ông Phan, trong phiếu thẩm tra, ông Lê Đại trực tiếp phê những dòng nhận xét về ông Phan rất tốt.

Tháng 10/1982, ông Phan được bổ nhiệm làm Thứ Trưởng Bộ Mỏ và Than. Như vậy, sau tám năm, từ một phạm nhân, mãn hạn tù, ông Phan phấn đấu, học tập, rèn luyện, trở thành Thứ trưởng.

VI. VÌ SAO ÔNG PHAN VÀO TÙ?

Phiên tòa phúc thẩm của Tòa án Nhân dân Tối cao xét xử ông Phan hôm ấy đông nghẹt; người tràn ra cả hành lang. Tại Tòa, rất nhiều ý kiến bênh vực bị cáo Phan, rằng, tòa sơ thẩm ra hình phạt với bị cáo 18 tháng tù giam là quá nặng; thậm chí có ý kiến cho rằng bị cáo Phan vô can.

Vụ tai nạn lao động kinh hoàng

Vụ tai nạn lao động gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra năm 1971, tại lò giếng Mông Dương, Quảng Ninh. Như đã nêu ở phần trước, đây là mỏ than mở vỉa bằng giếng đứng đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam. Mỏ Mông Dương do Liên Xô thiết kế và đầu tư xây dựng, bao gồm cải tạo giếng chính do người Pháp để lại; đào thêm giếng phụ, từ cốt 6 (mặt phẳng thủy chuẩn) xuống âm 97,5 mét, sau đó đào các đường lò trong hệ thống mở vỉa để khai thác than. Đơn vị thi công là Công trường Xây dựng Mỏ Mông Dương thuộc Công ty Xây dựng Than - Điện, Bộ Điện - Than (Công trường này sau đổi thành Xí nghiệp Xây lắp 6, rồi Xí nghiệp Xây lắp Mỏ Mông Dương, nay là Công ty Xây dựng Mỏ hầm lò 1, thuộc Vinacomin).

Đến năm 1982, khu vực cánh Tây của mỏ được đưa vào khai thác. Hệ thống đường lò do Xí nghiệp đào trên 16 cây số. Sản lượng khai thác của mỏ Mông Dương hiện nay vượt gần hai lần so với công suất thiết kế.

Vụ tai nạn lao động xẩy ra khi đang đào giếng phụ được hơn 30 mét. Giếng phụ có đường kính sáu mét. Để bảo đảm an toàn cho người thi công dưới giếng, người ta làm sàn bảo hiểm, gồm các thanh sắt xuyên vào thân giếng, trên đó lát kín bằng tôn.

Trong quá trình thi công giếng, người ta dùng tời, móc vào thùng sắt để vận chuyển người, vật liệu, đất đá. Khi đổ bê tông thành giếng, người ta ghép cốp pha theo chu vi thân giếng, sau đó dùng ô tô chở vữa đến miệng giếng, đổ vào phễu. Vữa bê tông từ miệng phễu, theo đường ống chảy xuống. Công nhân dưới đáy giếng làm nhiệm vụ đổ bê tông vỏ giếng.

Ca hai hôm đó, năm công nhân đang làm việc dưới giếng. Đến khoảng 5 giờ chiều, Chỉ huy trưởng Công trường ra lệnh tiếp tục đổ bê tông vỏ giếng. Hôm đó trời mưa tầm tã. Công tác chuẩn bị cho mẻ bê tông kéo dài hơn sáu giờ đồng hồ. Vữa bê tông đưa lên xe ô tô để lâu đã có hiện tượng gắn kết, chảy xuống phễu khó khăn. Trước tình trạng đó, tốp thợ tự ý nâng độ dốc của phễu để bê tông trôi xuống đáy giếng nhanh hơn. Bất ngờ, cả khối bê tông khổng lồ ụp xuống, làm sập sàn bảo hiểm, đè chết tại chỗ hai công nhân và ba công nhân bị thương nặng.

Bản án sơ thẩm

Sau khi vụ tai nạn lao động xẩy ra, lãnh đạo Bộ Điện - Than, lãnh đạo Công ty nhanh chóng xuống ngay hiện trường để chỉ đạo cứu hộ, tổ chức đưa thi hài những nạn nhân về quê theo yêu cầu của gia đình. Các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ninh và của Công ty, của Bộ cũng nhanh chóng vào cuộc để thanh tra, xác định nguyên nhân xẩy ra tai nạn lao động, quy trách nhiệm cá nhân trong vụ việc.

Kết quả thanh tra ban đầu cho thấy, nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động là do sàn bảo hiểm mới gá tạm, chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật; khi thi công, công nhân đã vi phạm quy trình kỹ thuật, tự ý nâng phễu rót bê tông, không tuân thủ theo thiết kế. Người chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là ông Trương Công Minh, (công nhân thường gọi là ông Minh Rèn vì ông là thợ rèn ở Khu Gang thép Thái Nguyên, được Bộ điều động về Mông Dương làm Chỉ huy trưởng) và ông Nguyễn Đức Phan, Phó Chỉ huy trưởng, phụ trách kỹ thuật.

Từ kết luận thanh tra trên, Bộ ra quyết định cách chức ông Minh và ông Phan. Hồ sơ thanh tra được chuyển đến Công an tỉnh Quảng Ninh. Công an tỉnh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố 4 bị can (ông Minh, ông Phan, ông Trần Điền và ông Đẩu) để điều tra.

Tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, ông Minh và ông Phan bị kết án thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và chịu hình phạt tù. Theo đó, ông Minh chịu mức án nhẹ hơn, 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo vì ông không có trình độ chuyên môn về xây dựng mỏ; còn ông Phan là người phụ trách kỹ thuật của đơn vị, trực tiếp phê duyệt thiết kế thi công nên chịu mức án nặng hơn, 18 tháng tù giam.

Ông Nguyễn Châu nhớ lại: “Chúng tôi nhận tin báo về vụ tai nạn lao động ở Mông Dương đúng vào lúc mưa lũ khủng khiếp. Dù vậy, tôi cùng anh Lang Đen, anh Trần Anh Vinh, Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật của Bộ (ông Trần Anh Vinh sau này là tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp) xuống ngay hiện trường. Lúc sau mới thấy anh Phan hớt hải về. Hôm đó anh ấy họp trên Công ty, chắc gặp mưa lũ, bị tắc đường nên anh ấy về chậm...

… Bản án sơ thẩm ngày ấy gây bất bình trong công nhân mỏ. Nhiều người cho rằng anh Phan bị oan! Khi tai nạn xẩy ra, anh Phan đang đi họp xa, không trực tiếp chỉ huy đổ bê tông. Mặt khác, chịu trách nhiệm trong vụ tai nạn lao động này còn có chuyên gia Liên Xô (vì không làm tốt vai trò giám sát kỹ thuật) và những công nhân bị tai nạn (vì không tuân thủ quy trình quy phạm an toàn khi thi công). Tại sao tòa không xem xét, lại chỉ kết tội cho ông Minh và ông Phan? Với sự bất bình ấy, gần 100 kỹ sư, công nhân mỏ ký vào đơn khiếu nại tới tòa phúc thẩm và gửi tới lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Bộ Điện - Than, đề nghị can thiệp tới các cơ quan bảo vệ pháp luật giảm hình phạt cho ông Phan và ông Minh như đã nêu ở phần trên.

Hai quan điểm trái chiều

Trong lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Công ty, có nhiều ý kiến bày tỏ quan điểm, ngành Than đang thiếu cán bộ kỹ thuật, kỹ sư trẻ mới được đào tạo ở nước ngoài về ít ỏi, lại tình nguyện làm việc những nơi xa xôi như ông Phan là rất đáng biểu dương. Hơn nữa, công nghệ đào giếng đứng phức tạp, yêu cầu kỹ thuật cao, lần đầu tiên thực hiện ở nước ta; ông Phan khi đó còn trẻ, chưa có kinh nghiệm kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lí nên không tránh khỏi vấp phải thiếu sót, khuyết điểm. Những người này đề nghị tòa xem xét, giảm tội cho ông Phan. Bộ Điện - Than sẽ có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trong ngành rút kinh nghiệm và yêu cầu cơ sở giáo dục ông Phan. Nếu tòa xử mạnh tay, các trí thức trẻ của ngành than sẽ hoang mang, nhụt ý chí.

Lãnh đạo tỉnh, Viện kiểm sát, Tòa án, Liên hiệp Công đoàn tỉnh v.v. đưa ra quan điểm ngược lại. Nhóm ý kiến này cho rằng, đối với bị cáo Phan, một trí thức trẻ, với hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng, càng phải xử lí thật nghiêm khắc để răn đe lực lượng trí thức, ngăn ngừa tình trạng vi phạm quy phạm an toàn trong ngành Than - một ngành mà nguy cơ mất an toàn rất cao. Đây là vụ án điểm, cần xét xử nghiêm khắc, đúng người, đúng tội…

Án phúc thẩm nặng hơn do… kiện!

Ông Phan nhớ lại, phiên tòa phúc thẩm của Tòa án Nhân dân Tối cao hôm ấy được tổ chức tại hội trường Nhà máy Điện Cọc Năm (Hòn Gai, Quảng Ninh - Nhà máy này bị dỡ bỏ từ lâu - TG). Với tính chất là vụ án điểm, tòa mời đại diện lãnh đạo Bộ Điện - Than, các cơ quan chức năng của tỉnh, Liên hiệp Công đoàn Tỉnh, lãnh đạo Công ty Than - Điện, lãnh đạo các mỏ. Phiên tòa đông nghẹt, người tràn ra cả hành lang; trong đó đông nhất là công nhân cán bộ trong Công ty và Xí nghiệp Xây lắp 6. Tại tòa, vẫn rất nhiều ý kiến bênh vực bị cáo Phan, rằng, tòa sơ thẩm ra hình phạt với bị cáo 18 tháng tù giam là quá nặng; thậm chí có ý kiến cho rằng bị cáo Phan vô can.

Tòa hỏi tôi:

- Bị cáo có thấy mình bị oan không?

Tôi điềm tĩnh:

- Thưa quý tòa, không ạ. Bị cáo là người trực tiếp duyệt bản vẽ thiết kế thi công, nhưng trước khi đi họp, không kiểm tra lại hiện trường.

- Vậy bị cáo có thấy mức án sơ thẩm là quá nặng không?

- Thưa quý tòa. Đúng là bị cáo thiếu tinh thần trách nhiệm, không kiểm tra hiện trường trước khi đi vắng. Nhưng, việc kiểm tra giám sát kỹ thuật thi công còn có các chuyên gia Liên Xô. Họ là bậc thầy của cán bộ kỹ thuật và công nhân Việt Nam trong công nghệ đào giếng đứng…

… Vị đại diện Viện kiểm sát đưa ra quan điểm, không xem xét tới vai trò trách nhiệm của chuyên gia Liên Xô vì ảnh hưởng đến mối tình hữu nghị Việt - Xô và cũng không nên kết tội công nhân bị tai nạn đã chết. Còn đối với bị cáo Nguyễn Đức Phan, tòa phân tích, dù bị cáo không trực tiếp chỉ huy ca sản xuất xẩy ra tai nạn lao động; nhưng, với vai trò là người quản lí kỹ thuật cao nhất của công trường, lại là người phê duyệt bản vẽ thiết kế thi công; thế mà trước khi đi vắng, bị cáo phó mặc công việc kỹ thuật cho người không có trình độ chuyên môn (tức ông Minh Rèn, Chỉ huy trưởng) là thiếu tinh thần trách nhiệm. Cuối cùng, tòa quyết định hình phạt nặng hơn án sơ thẩm. Thay hình phạt án treo, bị cáo Trương Công Minh bị hình phạt cải tạo giam giữ một năm; bị cáo Phan vẫn giữ nguyên mức án tù giam 18 tháng như bản án sơ thẩm!

Phiên tòa kết thúc, một số người tỏ ra hả hê, vì đơn kiện tập thể không làm gì được họ, liền viết giấy dán lên tường: “Tên Nguyễn Đức Phan đã bị trừng trị thích đáng”. Có tờ báo đưa tin, với dòng tít: “Một bản án nghiêm khắc cho những kẻ thiếu trách nhiệm với công nhân”.

Ông Phan kể, sau này ông có dịp sang Liên Xô, một số bạn bè ông bên ấy cũng được đọc bài báo viết về phiên tòa này. “Khổ thân bác Minh”, ông Phan bùi ngùi, “Bác ấy là người Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc, vợ con vẫn ở trong Nam, ăn uống sinh hoạt chan hòa với công nhân. Cả đời theo cách mạng, chẳng được học hành gì nhiều. Được cái tay nghề của của bác ấy rất giỏi, nhất là nghề rèn, nghề hàn. Bác ấy làm thợ từ thời Pháp mà. Trong công việc, bác ấy hăng hái, luôn sốt sắng; sống với anh em bác ấy nghĩa tình lắm”.

“Ngày 24/12/1973, tôi chấp hành án tại Trại Tạm giam 14 Hà Lầm. Mấy hôm sau quản giáo trại giam mới đưa bác Minh tới. Nom bác ấy gầy gò hốc hác, thương lắm. Sau này bác ấy chuyển vào Nam và mất ở trong đó. Hôm bác ấy mất, tôi bận công tác không vào viếng được. Anh Kiển (ông Đoàn Văn Kiển, khi đó là Tổng Giám đốc Tổng Công ty Than Việt Nam - TG) dẫn đầu đoàn cán bộ thay mặt Tổng Công ty Than vào viếng, làm hộ tôi vòng hoa mang tên gia đình tôi kính viếng hương hồn bác ấy”.

Vợ ông Phan, bà Ngô Thu Nguyệt, nhớ lại, ông bị "tai nạn nghề nghiệp" đúng vào lúc lụt to. Đê sông Đuống bị vỡ, cuốn trôi nhà cửa, đồ đạc của Công ty (khi đó Công ty còn một cơ sở ở Yên Viên, Hà Nội). Bà và hai con nhỏ đang ở trong gian tập thể cơ quan, phải chạy lụt, về quê ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh. Cơ quan tưởng mẹ con bà mất tích, cử người tìm kiếm. Nước rút, bà trở lại cơ quan mới hay tin về chồng bà…

VII. THỨ TRƯỞNG… “ĐẠT YÊU CẦU”

Trong quá trình thực hiện bài viết này, tôi đến nhà ông Phan ba lần. Trong ba lần ấy, ông đều dè dặt, thận trọng và kiệm lời; không nồng nhiệt, cởi mở và trào lộng như trước đây tôi từng biết về ông. Tôi nghĩ, có lẽ sức nặng tuổi tác và bệnh tật khiến ông thay đổi thế chăng?

Nhưng khi tôi hỏi một câu vu vơ, ngớ ngẩn rằng, bây giờ ông có lăn tăn điều gì không, có bằng lòng với mình không? ông linh hoạt hẳn lên; gương mặt hân hoan như trẻ lại. Ông nói: “Nhìn chung là tạm được. Có khuyết điểm, có thành tích. Tôi có ba con, đều là đảng viên, kỹ sư, thạc sỹ; đều thành đạt; có 6 cháu nội, ngoại. Vạt đất này bảy mươi lăm mét vuông, bà ấy mua năm chín tám. Khi đó tôi đang làm Thứ trưởng, tính ra hết có mấy cây vàng. Nhà tôi con cháu đông. Ở khu tập thể chật chội quá, phải ra ngoài đê mua cho rộng. Nhìn chung, cuộc sống của tôi đạt yêu cầu”

Ông nhấn mạnh mấy tiếng “đạt yêu cầu”, điệu bộ hoạt lắm, rồi cười hơ hơ. Điệu bộ ấy, nụ cười thanh thản, cởi mở ấy mới đích thị là ông Phan Phệ ngày nào!

Là ông vui tính nói vậy chứ tôi biết, ông rất tự hào với chặng đường cay đắng và vinh quang của ông. Bây giờ tôi mới để ý, trên các bức tường của phòng khách, chỉ gắn trang trọng mỗi tấm Huân chương Độc lập hạng Nhì. Tấm Huân chương cao quý ấy, Nhà nước tặng thưởng cho ông vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà cụ thể là trong sự nghiệp phát triển năng lượng Than và Điện của Việt Nam.

Lại nói về bản dịch tiếng Nga trong tù

Suốt mấy chục năm công tác, ngoài kiêm nhiệm một số chức vụ như Bí thư Đảng ủy Cơ quan Bộ Công nghiệp, Thủ trưởng Cơ quan Bộ, còn lại, ông Phan chỉ làm chuyên môn, trong đó, làm lâu nhất là công tác xây dựng cơ bản. Dù là trưởng phòng, vụ phó, cục phó, cục trưởng rồi thứ trưởng, ông đều đặc trách công tác đầu tư xây dựng cơ bản ngành Than. Sau này các bộ sáp nhập thành Bộ Năng lượng, Bộ Công nghiệp, ông “ôm” thêm công tác đầu tư xây dựng cơ bản các ngành điện, hóa chất, v.v.

Nhờ chuyên tâm làm công tác này, nhất là đối với ngành Than nên khi hỏi lý lịch các mỏ than, không cần sổ sách gì, ông vẫn nói vanh vách. Chẳng hạn, Mỏ than Mạo Khê bị người Pháp khai thác cách đây hơn 100 năm (từ 1884), tài nguyên các mức trên cạn kiệt. Năm 1973, Trung Quốc giúp ta xây dựng hệ thống khai thác mở vỉa bằng giếng nghiêng từ mức dương 17 xuống âm 80 để khai thác than từ âm 80 trở lên. Giếng nghiêng này do chuyên gia Trung Quốc thiết kế, Xí nghiệp xây lắp IV, Công ty Xây dựng Than - Điện thi công. Đến năm 1979, chuyên gia Trung Quốc rút về nước, việc đào giếng nghiêng này bị đình trệ, giếng ngập nước 15 năm. Năm 1996, Tổng Công ty Than Việt Nam mới khôi phục.

 

Ông Lê Đại, thứ 3, từ trái sang

 

Mỏ Vàng Danh, Mông Dương cũng vậy. Phần than nục nạc bên trên, Pháp lấy cạn kiệt. Thế là phải xây dựng mỏ mới. Từ thập kỷ sáu mươi, bảy mươi, Công ty Xây lắp Than - Điện đã xây dựng hàng loạt mỏ mới. Trong đó, Xí nghiệp Xây lắp 5 xây dựng mỏ Vàng Danh, Xí nghiệp Xây lắp 6 xây dựng Mỏ Mông Dương. Đến năm 1978, Bộ Điện & Than quyết định tách Công ty ra thành Công ty Xây lắp Cẩm Phả, do ông Phạm Thế Duyệt là Giám đốc và Công ty Xây lắp Uông Bí, do ông Lê Hữu Quân làm Giám đốc. Xí nghiệp Xây lắp 6, thuộc Công ty Xây lắp Cẩm Phả, được đổi tên thành Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương. Xí nghiệp tiếp tục xây dựng mỏ Mông Dương và xây dựng các mỏ mới như Khe Tam (Dương Huy), Khe Chàm, Tân Lập, v.v.

Trong thời gian này, một số mỏ lộ thiên khác như Cao Sơn, Núi Béo, Núi Hồng (Thái Nguyên), v.v. cũng được đầu tư xây dựng. Trong đó, Mỏ than Cao Sơn (thành lập ngày 6/6/1974), Mỏ Than Núi Béo (thành lập ngày 7/11/1988) v.v. đều do Liên Xô thiết kế và đầu tư xây dựng. “Phải đi trước thì sau này ngành Than mới có đất, có ruộng để cày chứ”.

Từ khi thành lập, Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Vinacomin), đã đổi mới sâu sắc, toàn diện, và đẩy mạnh công tác xây dựng cơ bản nên sản lượng than hàng năm tăng nhanh. Năm 2007, sản lượng than tăng năm lần so với năm đầu thành lập Tổng Công ty (Tổng Công ty Than VN thành lập tháng 10/1994, đến tháng 1/1995 mới chính thức hoạt động). Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó có sự đóng góp sản lượng của những mỏ được xây dựng từ trước khi thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam.

Tôi hỏi:

- Những dự án bác nêu có phải nằm trong tài liệu báo cáo cơ sở tổng sơ đồ phát triển ngành Than lên 40 triệu tấn mà ông tham gia dịch trong tù không?

- Không. Chiến lược này bị thất bại! Ra tù, tôi được tham gia xây dựng quy hoạch phát triển ngành Than mới thấy chiến lược này viển vông quá. Khi đó lấy đâu ra vốn, lấy đâu lực lượng để làm được 40 triệu tấn? Tuy nhiên, tập tài liệu này giúp cho các kỹ sư mỏ nước ta có cái nhìn tổng hợp về quy hoạch, lập dự án, thiết kế than. Từ đây, một số kỹ sư Việt Nam được sang Liên Xô thực tập về công tác tư vấn thiết đầu tư xây dựng mỏ. Đây là lực lượng nòng cốt xây dựng Viện Quy hoạch Thiết kế Than, nay là Công ty CP Tư vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp, thuộc Vinacomin lớn mạnh. Lực lượng làm tư vấn đầu tư của ta sau này tự lập dự án đầu tư, tự thiết kế nhiều công trình mỏ mà không cần đến sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài.

Từ Hiệp ước Hợp tác Hữu nghị Việt - Xô

Trước năm 1990, ở Uông Bí và Cẩm Phả (Quảng Ninh) đều có làng chuyên gia Liên Xô. Các chuyên gia từ Nga, từ Ucraina xa xôi sang đây giúp ta xây dựng các công trình công nghiệp, chủ yếu là xây dựng các mỏ như Vàng Danh, Uông Thượng, Khe Tam, Mông Dương, v.v, và các nhà máy, trường học, phục vụ cho các mỏ, khi vào sản xuất.

Sự giúp đỡ của Liên Xô với Việt Nam được thực hiện từ lâu và trên nhiều lĩnh vực. Đến ngày 3/11/1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, từ đó, sự giúp đỡ của Liên Xô với Việt Nam càng toàn diện hơn, sâu rộng hơn. Trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, Liên Xô ưu tiên, tiếp tục đầu tư xây dựng mỏ cho Việt Nam.

Năm 1982, ông Phan được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Mỏ và Than và được giao phụ trách công tác đầu tư xây dựng cơ bản của ngành Than. Ông Phan cho biết, trên cơ sở những mỏ, những nhà máy của ngành Than, Viện Thiết kế Mỏ Quốc gia Leningrat, Liên Xô, giúp ta lập tổng sơ đồ phát triển công nghiệp than Việt Nam đến năm 1990 và dự báo đến năm 2000. Tổng sơ đồ này được Bộ Mỏ và Than phê duyệt ngày 24/6/1982. Đây là lần thứ hai, Liên Xô giúp ta lập quy hoạch phát triển ngành Than.

Từ hiệp ước và tổng đồ quy hoạch, Liên Xô tiếp tục giúp ta xây dựng các mỏ đồng bộ hơn; từ khâu lập dự án, đầu tư thiết bị đến tư vấn giám sát, đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lí. Thậm chí Liên Xô còn cử công nhân sang làm trực tiếp để kèm cặp công nhân Việt Nam.

Về thiết bị, từ thập kỷ bảy, tám mươi, Liên Xô đưa vào mỏ hầm lò của nước ta những thiết bị hiện đại, kềnh càng như máy đào lò combai, máy đánh rạch, máy khoan PU ba mũi chạy trên đường ray, v.v. Máy đào lò combai ở Mông Dương gắn với tên tuổi của Anh hùng Lao động Hà Văn Hồng, với năng suất đào lò kỷ lục. (Ông Hà Văn Hồng được tuyên dương năm 1985. Lúc này ông Đoàn Văn Kiển đang làm Giám đốc Xí nghiệp). Tại các mỏ lộ thiên, có máy xúc EKG dung tích gàu xúc 5m3, 8m3; rồi ô tô Benla, trọng tải 30, 40 tấn. Những thiết bị, máy móc của Liên Xô đầu tư năm ấy, đến nay vẫn hoạt động tốt. (Bây giờ Vinacomin hợp tác với nước ngoài chế tạo, lắp ráp được máy đào lò combai, máy xúc điện EKG dung tích gàu xúc 10 m3/ gàu - TG).

Kỹ sư Vũ Anh Tuấn, người kế nhiệm của ông Phan (đã giới thiệu ở phần trên), sau này là Phó Giám đốc Công ty Than Uông Bí cho biết, ông Phan là người có công lớn trong việc đầu tư xây dựng các mỏ ở Việt Nam. Trong thời gian ông Phan làm Thứ trưởng, với ưu thế giỏi tiếng Nga, giỏi chuyên môn, ông Phan đã quan hệ rất tốt với các chuyên gia Liên Xô, để tranh thủ sự viện trợ của bạn, đặc biệt là trong thời gian thực hiện Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác Việt-Xô. Ông Vũ Anh Tuấn nói: “Sau khi Trung Quốc rút chuyên gia về nước, anh Phan đưa chuyên gia Liên Xô về thiết kế lại mỏ Mạo Khê. Rồi Mỏ Uông Thượng, Mỏ Yên Tử và hàng loạt các mỏ khác là do anh Phan bám với chuyên gia Liên Xô để họ giúp ta đầu tư xây dựng đấy chứ”.

Thời đó, người viết bài này cũng được làm cùng ca với mấy ông tây ở Mông Dương. Đó là những thợ lò lực lưỡng, chăm chỉ và vui tính. Tuy nhiên, họ chóng xuống sức. Khi lên xà (một công đoạn trong chu kỳ đào lò) xong, họ ngồi vật ra hông lò, thở dốc.

Khi đó, tại mức âm 97,5 mét dưới lòng đất, Mỏ Mông Dương như thành phố ngầm. Những đường lò rộng thênh thang, điện sáng trưng, các tường lò đầy những khẩu hiệu về tình hữu nghị Việt - Xô. Mới đây, tôi cùng mấy phóng viên ở Hà Nội xuống Mông Dương tác nghiệp, có đồng nghiệp hỏi tôi, không hiểu thợ mỏ làm việc suốt tám tiếng trong lòng đất, nhỡ có nhu cầu “dị hóa”, họ đi ở đâu, chẳng nhẽ lại phải lên mặt đất? Tôi bảo, thì ngay trong lò chứ đâu! Chết, ai mà ngửi được! Hay họ chôn? Không! Mỏ Mông Dương này, các bạn Liên Xô giúp ta không những vốn, thiết bị mà còn lưu ý cả cái sự không tiện nói. Chu đáo, chi tiết đến thế là cùng!

Ông Phan cho biết, trong 10 năm (từ năm 1980 - 1990), Liên Xô giúp Việt Nam bình quân mỗi năm 30 triệu rúp vàng để xây dựng các mỏ và 30 triệu rúp vật tư thiết bị để duy trì sản xuất. Giá trị đồng rúp ngày ấy to lắm, mỗi rúp ăn 1,1 USD. Một chiếc bàn là chỉ có năm rúp, tủ lạnh Saratov 180 rúp. Với tổng mức đầu tư ấy, một số được đầu tư xây dựng hệ thống khai thác các mỏ; đầu tư thiết bị máy móc vào các công trình; còn lại là các kho thiết bị khổng lồ đang “đắp chiếu”.

Theo một số cán bộ lãnh đạo của ngành Than, ngày đó, với vai trò là lãnh đạo bộ, trực tiếp phụ trách công tác xây dựng cơ bản của ngành Than, ông Phan chỉ đạo rất linh hoạt và hiệu quả việc phân bổ, điều động lượng thiết bị khổng lồ cho ngành Than. Ông còn có công lớn trong việc đưa điện lưới quốc gia về một số địa phương miền núi, nơi có mỏ than như Quế Sơn (Quảng Nam), Tương Dương (Nghệ An) v.v. khi ông phụ trách đầu tư xây dựng cơ bản của Bộ Năng lượng (bao gồm ngành Than và ngành Điện).

Ông Nguyễn Châu, người đã giới thiệu ở phần trước, sau này làm Giám đốc Công ty Than III, nay là Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin, kể: “Khi anh Phan về Bộ, anh ấy là sếp của tôi. Anh ấy là Thứ trưởng còn tôi chỉ là Giám đốc Công ty. Nhưng đi đâu, anh ấy cũng giới thiệu trịnh trọng, tôi là thủ trưởng cũ của anh ấy. Chúng tôi từng đi nhiều ngày vào tận vùng núi Quế Sơn để khảo sát, bàn bạc với lãnh đạo địa phương về xây dựng đường điện, cung cấp cho Mỏ than Nông Sơn và dân trong ấy; rồi xây đường điện lên huyện miền núi Tương Dương (Nghệ An) để cung cấp cho Mỏ than Khe Bố. Đi đến đâu anh ấy cũng vồn vã, thân mật với dân, được dân quý mến lắm”.

… Ngoài tám năm học đại học và thực tập sinh ở Nga, ông Phan còn sang Nga hàng chục lần để đàm phán, bàn bạc với bạn về công tác xây quy hoạch, đầu tư xây dựng mỏ, trong đó, nhiều nhất là thời gian thực hiện Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt - Xô. Bởi vậy, ông hiểu sâu sắc những người bạn Nga và được các chuyên gia Nga đặc biệt quý trọng. Các phái đoàn chuyên gia Nga sang Việt Nam, dù có phiên dịch, dù ông Phan là quan chức của Bộ, nhiều khi họ vẫn đề nghị ông Phan làm… “thông ngôn”. Ông kể, có lần, ông cùng các chuyên gia Liên Xô về công tác ở đơn vị X. Ông Giám đốc đơn vị ỉ lại trong đoàn có Thứ trưởng Phan, giỏi tiếng Nga nên không cần phiên dịch. Bữa đó, trong vai Thứ trưởng, kiêm phiên dịch, ông Phan bị mấy ông Tây quần cho một bữa bạc mặt, đói vàng mắt!

Nhắc đến chuyên gia Liên Xô, ông Phan cảm động: “Tôi có nhiều bạn Nga. Họ đôn hậu và quý trọng tình cảm lắm. Trong đó, anh A.Boychenko, nguyên Trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô, có công rất lớn đối với ngành Than. Bây giờ, một số bạn sang đây công tác, họ còn đến hỏi thăm tôi”.

Nói rồi ông lên gác lấy một tập ảnh, kỷ vật. Rất nhiều bức ảnh ông chụp với các thầy cô giáo Nga, chuyên gia Nga. Quả thật, gương mặt rạng rỡ của ông trong những bức ảnh ố vàng cho hay rằng, thời trai trẻ, ông thư sinh, đẹp trai, sáng láng chứ không phệ như tôi từng biết.

Tôi ngỏ ý mượn mấy bức ảnh tư liệu để đăng báo, nhưng ông từ chối. Ông coi đây là những báu vật, chỉ cho chụp lại chứ không cho mượn, ngộ nhỡ thất lạc…

Hà Nội, 7/11/2009