Kì 2. Ông "Phan Phệ" - từ phạm nhân lên Thứ trưởng
(Bài đã đăng trên Báo Điện tử Doanh nghiệp Việt Nam và trong cuốn sách "Nguyễn Đức Phan - Tình yêu và Sự nghiệp", Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2018)
Kỳ 2. ANH CẢ BỊ “CẶM”
… Những người đầu tiên xây dựng mỏ Mông Dương đều coi ông Phan như anh cả. Bởi, không những là người chỉ huy, có trình độ chuyên môn cao nhất, giỏi nhất, mà ông Phan còn sống gần gặn, chan hòa với anh em. Dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của ông Phan và sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô, giếng chính Mông Dương do người Pháp để lại được khôi phục thành công, an toàn... Một con người tài giỏi, đức độ như ông Phan mà bỗng nhiên bị “cặm”, phải vào tù, nhiều công nhân mỏ khi ấy thật sự bị sốc.
Ông Phan là người đầu tiên trực tiếp chỉ huy khôi phục, xây dựng mỏ Mông Dương. Theo một số tài liệu chúng tôi khai thác được, thực dân Pháp xây dựng và khai thác Mỏ than Mông Dương từ năm 1934 (có tài liệu ghi Công ty Than đá Bắc kỳ FSCT của Pháp khai thác Mỏ Mông Dương từ năm 1917. Có thể lúc đó người Pháp chỉ khai thác phần trên, đến năm 1934 mới đào giếng đứng?). Hệ thống khai thác gồm một giếng đứng, đường kính 4 mét, sâu hơn 100 mét, từ mặt đất xuống âm 97,5 mét so với mặt phẳng thủy chuẩn. Ngoài ra còn một giếng nghiêng và các đường lò khác ở mức âm 97,5 mét để khai thác than từ mức này lên mức 9,8. Than khai thác được, chở ra cảng Cửa Ông bằng đường sắt, dài 7 km, với 5 tàu kéo 170 toa xe loại 10 tấn. Sản lượng của mỏ năm 1939 đạt 220 nghìn tấn than nguyên khai. Năm 1941, do Nhà máy điện Cọc Năm bị Nhật ném bom phá hủy, mỏ ngừng sản xuất. Toàn bộ hệ thống khai thác bị ngập nước.
Tháng 3/1965, Chính phủ chủ trương khôi phục Mỏ Mông Dương. Đến năm 1966, đã bơm trên một triệu m3 nước, nhưng bị chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giếng Mông Dương lại bị ngập nước.
Để chuẩn bị khôi phục và xây dựng mới mỏ Mông Dương, năm 1967, Bộ Điện - Than tuyển chọn 104 công nhân, cán bộ ưu tú của các mỏ, sang Liên Xô thực tập nghề xây dựng mỏ hầm lò bằng công nghệ giếng đứng. Đoàn do ông Nguyễn Đức Phan, khi đó là Phó phòng Thi công, Công ty Xây dựng Than - Điện, làm trưởng đoàn.
“Chúng tôi thực sự choáng váng”
Ông Phan Đào Nguyên, nguyên Giám đốc Nxb. Lao động, nhiều năm là quân của ông Phan, kể: “Trước đây và cả bây giờ, anh em trong đoàn thực tập sinh ở Liên xô năm ấy đều coi anh Phan như anh cả vậy.”
Ông Phan Đào Nguyên, tiếp: “…Tôi biết anh Phan từ ngày còn làm thợ lò ở Mỏ Hà Lầm. Ngày ấy, anh Phan mới đi học ở Liên Xô về nước mấy năm, mà đã là Quản đốc Công trường 38 Mỏ Hà Lầm. Là quản đốc, chui lò suốt ngày nhưng nom anh ấy thư sinh, trắng trẻo, đẹp trai chứ không “phệ” như những năm sau này. Tôi nhớ, có lần anh ấy mặc bộ bảo hộ, đội mũ lò, đi ủng, nói tiếng Nga như gió với mấy ông Tây.
Trời ơi, sao quản đốc hầm lò mà có người thư sinh đến vậy! Anh ấy mặc bảo hộ lao động vẫn toát lên vẻ cao sang. Sau này, tôi được đi thực tập sinh với anh ấy ở Liên Xô, được tiếp xúc nhiều với anh ấy, mới biết, anh ấy xuề xòa lắm; chẳng mấy khi ăn diện, chải chuốt. Vậy mà mấy em Tây quý mến anh ấy ra mặt. Gặp chúng tôi, các em thường khen anh ấy đẹp trai quá, vui tính quá, nói tiếng Nga như người Nga.
Ngày ấy, việc quản lí lưu học sinh nước ngoài nghiêm lắm. Nội quy quy định, đi đâu cũng phải có hai người; mua sắm gì phải khai báo. Anh Phan là trưởng đoàn, phụ trách bốn đội, chẳng biết có phải lòng em nào không nhưng nom có vẻ nghiêm chỉnh. Anh ấy không hút thuốc lá, không ham rượu chè. Nhưng khi vui với anh em, anh ấy cũng “tẹt ga” đấy.
Có lần tôi và anh Minh Phương (ông Hà Quang Minh, vợ tên là Phương, hiện sống ở phòng 406, nhà CT6, khu đô thị Mỹ Đình, Hà Nội) làm thịt con chó, mời anh Phan đến. Anh Phan là sếp nhưng ở tập thể, sinh hoạt tùm lum với anh em, còn tôi với anh Minh Phương làm nhà ở riêng. Bữa ấy, ai cũng liêng biêng. Chúng tôi ôm nhau hát những bài hát Nga. Mắt anh ấy long lanh. Gương mặt hồng rực lên. Tôi nhắc tới mấy cô gái Nga, ghé tai anh bỗ bã: “Cái cô Anna ấy, nom xinh quá. Bác có gì với cô ấy không?”. Anh phát vào mông tôi: “Cái thằng… Ngày ấy, tao mà vớ vẩn, no đòn!”.
Điều chúng tôi kính trọng, cảm phục nhất ở anh Phan là chuyên môn rất giỏi; kiến thức uyên bác. Khi chúng tôi về nước, nhận nhiệm vụ khôi phục mỏ Mông Dương và xây dựng mỏ mới, Mông Dương là khu rừng hoang vu. Chúng tôi phải chặt cây, làm nhà để ở. Giếng chính Mông Dương do người Pháp đào và khai thác, bỏ hoang lâu ngày, lúc này ngập nước, cây cối um tùm. Việc khôi phục giếng cực kỳ phức tạp. Đoàn đi thực tập sinh ở Liên Xô, sang bên ấy chỉ thực tập xây dựng mỏ bằng giếng đứng, chứ có thực tập cải tạo giếng cũ như thế này đâu. Trong đoàn mỗi anh Phan có bằng kỹ sư, còn lại là trung cấp, công nhân kỹ thuật và cũng chưa ai biết khôi phục giếng như thế nào cả.
Rồi dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của anh Phan và sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô, giếng chính được khôi phục thành công, an toàn. Việc đào giếng phụ cũng là công việc mới mẻ và phức tạp. Phải là người rất giỏi chuyên môn, sáng tạo và táo bạo, mới chỉ đạo thành công những việc phức tạp mới mẻ như thế”.
Ông Phan Đào Nguyên tiếp: “Chúng tôi coi anh Phan như anh cả còn ở tính quần chúng, gần gũi thân ái với anh em; biết nhìn nhận, đánh giá năng lực sở trường của từng người, để bố trí phân công việc phù hợp với năng lực sở trường của họ. Trước khi sang Liên Xô, tôi được tổ chức phân vào học nghề khai thác, vì tôi nguyên là công nhân khai thác ở Mỏ Hà Lầm. Nhưng khi tập trung, nhìn thấy tôi, anh ấy nói ngay với mấy anh tổ chức: “Thằng này nhỏ con, có vẻ nhanh nhẹn, không làm thợ khai thác lâu dài được, đề nghị các anh cho học vận hành máy nâng”. Nhìn thấy anh Ngô, to con lừng lững, anh Phan lại bảo: “Thằng này học vận hành, phí! Đề nghị các anh chuyển nó sang học khai thác”.
Nghề vận hành máy nâng nhàn, lúc rỗi rãi, tôi thường đọc sách báo. Có lẽ nhờ thế mà thời làm ở Mông Dương, tôi được mở mang kiến thức qua sách báo, sau này được đi học rồi chuyển hẳn sang nghề xuất bản và viết văn, viết báo (ông Phan Đào Nguyên là tác giả của tám đầu sách nghiên cứu về văn hóa và thơ).
… Một con người tài giỏi, đức độ như anh Phan mà bỗng nhiên bị cặm, phải vào tù, anh em chúng tôi khi ấy thật sự bị sốc” - Ông Nguyên nói.
“Tôi là một trong hơn một trăm người ký đơn kiện, bênh vực cho anh Phan”
“Khi đó tôi cũng choáng lắm! Không chỉ riêng tôi mà anh em cán bộ kĩ sư ở ngành Than đều bất bình về quyết định khởi tố anh Phan. Chính tôi là một trong gần một trăm người ký vào đơn kiện, bênh vực cho anh Phan rồi kéo nhau đi dự phiên tòa xét xử anh Phan…”. Ông Vũ Anh Tuấn, nguyên Phó Giám đốc Công ty Than Uông Bí đã nói với tôi như vậy.
Hồi đầu năm 2009, khi chủ biên cuốn sách “Công ty than Uông Bí 30 năm xây dựng và phát triển”, tôi đã biết ông Vũ Anh Tuấn là kỹ sư mỏ được đào tạo ở Trung Quốc và là một trong những người có công lớn xây dựng Công ty than Uông Bí. Tôi được biết thêm, khi ông Phan chuyển lên Bộ, ông Vũ AnhTuấn là người thay ông Phan làm Trưởng phòng Kỹ thuật mỏ Công ty Xây dựng Mỏ than (tiền thân là Công ty Xây dựng Than- Điện).
Tôi hỏi ông Vũ Anh Tuấn, là người kế nhiệm của ông Phan, ông thấy phẩm chất và năng lực của ông Phan khi làm trưởng phòng Kỹ thuật Công ty thế nào? Ông Tuấn sôi nổi: “Anh Phan rất giỏi chuyên môn. Anh ấy có bằng đỏ ở Liên Xô đấy. Anh ấy sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người, nên mới được anh em quý mến; khi “dính” khuyết điểm mới được anh em người ta bênh vực như thế chứ. Đơn kiện cho anh Phan đầu tiên là do anh Tý chắp bút đấy. Cậu biết anh Tý không?”. Tôi bảo, biết. Bác Nguyễn Xuân Tý sau này là Giám đốc Công ty Xây lắp Cẩm Phả (1983 - 1985), rồi Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Thiết kế mỏ. Ông Tuấn tiếp: “Đấy đấy. Ông Tý ấy đấy. Ông ấy viết đơn rồi đồng loạt ký vào đơn kiện. Sau đó, anh Tý bị tổ chức bắt làm kiểm điểm, chúng tôi cũng bị hành…”
Họ đã cải tạo giếng Mông Dương như thế nào?
Trước khi làm báo chuyên nghiệp, tôi cũng được đào tạo chuyên ngành xây dựng mỏ hầm lò; từng làm thợ đào lò rồi làm Phó Quản đốc, chỉ huy đào lò ở cánh Tây, Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương, nơi trước đây ông Phan bị “cặm”. Nhưng khi tôi về Mông Dương, những đường lò quan trọng, phức tạp nhất trong hệ thống mở vỉa như khôi phục giếng chính, đào giếng phụ, hệ thống sân ga, hầm trạm v.v. đã được những thế hệ trước thi công xong. Ở âm 97,5 mét trong lòng đất, các hầm trạm, sân ga bến giếng, lò xuyên vỉa hai đường xe rộng thênh thang, thành lò quét vôi trắng tinh, điện sáng trưng, tàu chạy rầm rập như thành phố ngầm nguy nga trong lòng đất vậy. Tôi nhớ, có lần ông Trung Quật sai tôi đi gọi thợ bắn mìn, tôi bị lạc trong những đường lò chi chít, rất giống nhau, mãi mới tìm được lối ra. Lúc đó, tôi không hiểu, khi thi công những hạng mục hiện đại ấy, những người thợ trước chúng tôi đã đào như thế nào? Sau này, qua những kỹ sư, công nhân đàn anh ở Mông Dương kể lại, tôi có thể mô tả cái sự phức tạp của việc cải tạo giếng chính như thế này:
Giếng chính được cải tạo theo các công đoạn bơm nước, cắt, phá bỏ toàn bộ hệ thống thiết bị của giếng cũ, chỉ sử dụng vỏ giếng; lắp đặt lại hệ thống thiết bị mới. Các công đoạn đều rất nguy hiểm, bởi giếng bỏ hoang lâu ngày, nguy cơ khí độc, nổ khí, bục nước v.v. có thể xảy ra. Ngày 31/5/1937, người Pháp để xảy ra một vụ nổ khí mê- tan ở giếng Mông Dương, làm chết nhiều người.
Hệ thống khai thác do người Pháp để lại gồm giếng chính và nhiều đường lò ở mức âm 97,5 mét. Lượng nước bị ngập trong hầm lò và giếng chính không ai tính được, nhưng ước tính hàng triệu m3. Việc bơm nước, phải sử dụng máy bơm công suất lớn nhưng không thể đặt máy bơm trên miệng giếng để bơm như giếng nước ăn, mà phải bơm nước thông qua lỗ khoan đường kính lớn, song song với giếng chính. Bây giờ, việc khoan những lỗ khoan đường kính lớn không mấy khó khăn, nhưng ngày đó, để khoan lỗ khoan sâu tới âm 97,5 mét, là một thành công lớn
Công đoạn cắt bỏ, phá dỡ thiết bị cũ, lắp đặt thiết bị mới trong lòng giếng cũng rất phức tạp. Ông Phan nói: “Bác Minh (bác Minh là ai, xin được giới thiệu sau) là người có công lớn trong việc hàn nối các thiết bị trong giếng chính. Bác ấy là thợ cơ khí từ thời Pháp. Công nhân mỏ gọi bác ấy là bác “Minh Rèn” nhưng trong lĩnh vực cơ khí, nghề gì bác ấy cũng rất giỏi chứ không phải riêng nghề rèn”
Thời làm thợ lò ở Xí nghiệp Xây lắp Mỏ Mông Dương (sau đây gọi tắt là XN Xây lắp 6), người viết bài này rùng mình khi nghe những người trực tiếp khôi phục giếng chính năm ấy như bác Võ Hồng Nghinh (sau này là Giám đốc Xí nghiệp); bác Ngô Hồng Khanh (sau này là Bí thư Đảng ủy XN), bác Đậu Đen, bác Tân… kể lại. Chuyện rằng, sau khi bơm cạn giếng, mặc dù được thông gió và có các biện pháp an toàn cho các công đoạn tiếp theo, dường như ai cũng hoảng. Bởi, trong khoảng không gian hun hút, há hoác, đen ngòm ấy, thực dân Pháp để lại thứ gì dưới ấy? Quả nhiên, sau mấy tháng trời, hút hàng chục triệu m3 nước, những người thợ ở đây đã tìm thấy nhiều đầu lâu người, xương ống, xích sắt, còng sắt vùi trong hàng triệu khối bùn đen. Có tin rằng, đây là hài cốt những chiến sỹ cách mạng vô danh, bị thực dân Pháp còng tay, thả xuống giếng (?). Một số hiện vật nay đang được lưu giữ ở Bảo tàng Quảng Ninh..
Ông Phan là một trong những người đầu tiên chỉ đạo thi công những công đoạn phức tạp như thế. Vậy mà bỗng nhiên bị “cặm”, nhiều công nhân mỏ khi đó choáng váng là phải.
(Còn tiếp)
Nguồn: doanhnghiepvn.vn
Nguồn: doanhnghiepxanh.com.vn



Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam khẳng định ‘sức hút’ Việt Nam
Thao túng cổ phiếu, hai cá nhân bị phạt 1,2 tỷ đồng
Ông Tô Dũng Thái được giao Phụ trách Hội đồng thành viên Tập đoàn VNPT
Elon Musk là CEO có thu nhập nhiều nhất thế giới
Tỷ phú Phạm Nhật Vượng bỏ gần 500 tỷ đồng lập công ty sản xuất pin
Chủ tịch Tập đoàn VNPT làm tân Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông
Bình luận (0)