(DNX) - Theo Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính), việc giá thép thành phẩm trên thị trường trong nước thời gian qua tăng cao, đặc biệt với thép xây dựng, chủ yếu do giá nguyên liệu thép trên thế giới tăng mạnh.

Bộ Tài chính cho rằng, để bình ổn thị trường thép cần phải sử dụng các giải pháp đồng bộ trong ngắn và dài hạn. Trong đó, cần các giải pháp để cân đối cung - cầu, nâng cao năng lực sản xuất thép trong nước, đặc biệt về nguồn cung nguyên liệu. Đồng thời, có thể xem xét điều chỉnh chính sách thuế tự vệ thương mại đối với phôi thép và các sản phẩm thép xây dựng trong giai đoạn hiện nay (theo quyết định của Bộ Công Thương), để giảm giá phối thép và thép thành phẩm nhập khẩu.

Mới đây, ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) đã trả lời trước báo chí về vấn đề xem xét điều chỉnh chính sách thuế tự vệ với phôi thép và thép xây dựng để giảm giá nguyên liệu đầu vào, góp phần bình ổn giá thép.

binh on gia thep

Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh chính sách thuế tự về với phôi thép và thép xây dựng.

Theo đó, để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước trong việc hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh với thép nhập khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với nguyên liệu để sản xuất thép được quy định ở mức thấp là 0% (nhóm 72.03), 3% (nhóm 72.04) và 1% đối với phôi thép (nhóm 72.06). Việc quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thép thấp trong thời gian qua đã góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước giảm giá thành đầu vào và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Đối với thuế nhập khẩu thép thành phẩm, hiện mặt hàng thép xây dựng thuộc nhóm 72.13 đến 72.16 có mức thuế suất thuế MFN là 15% đối với thép hình, thép góc và 20% đối với thép dạng thanh que. Những mặt hàng này nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc và từ Ấn Độ. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang là thành viên của 14 Hiệp định thương mại tự do, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt tại một số Hiệp định này đối với các mặt hàng thép xây dựng tương đối thấp như Hiệp định ASEAN (ATIGA), Việt Nam-Nhật Bản (VJFTA), Việt Nam Hàn Quốc (VKFTA)…

Với các biện pháp thuế tự vệ, Bộ Công thương hiện đang áp dụng mức tự vệ 15,3% với phôi thép nhập khẩu, và mức 9,4% với thép dài, và sẽ giảm dần trong 2 năm tới.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính nhấn mạnh rằng việc đặt vấn đề giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép thành phẩm cần được cân nhắc, tính toán cẩn trọng để vừa góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước phát triển bền vững, bình ổn thị trường thép trong nước

Dự kiến trong năm 2021, Việt Nam sẽ tiếp tục phải nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu để sản xuất thép như quặng sắt cho các lò cao khoảng hơn 18 triệu tấn, thép phế liệu khoảng 6-6,5 triệu tấn cho các lò điện, than mỡ luyện cốc khoảng 6,5 triệu tấn và điện cực graphite khoảng 10.000 tấn…

Ánh Quyên (T/h)